Cây Tam thất nam
Tam thất nam hay Tam thất gừng (tên khoa học là Stahlianthus thorelii Gagnep) hay Khương tam thất, được coi là một trong những dược liệu hay được sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền của người Dao nhưng hiện nay nguồn nguyên liệu chính vẫn được khai thác từ tự nhiên, chưa được trồng rộng rãi.
1. Giới thiệu về cây Tam thất nam
Tam thất nam có tên khoa học Stahlianthus thorelii Gagnep thuộc họ Gừng – Zingiberaceae còn được gọi là Cẩm địa la; thiền liền tròn; ngải máu; tam thất gừng; khương tam thất; ngải năm ông.

1.Đặc điểm thực vật:
Tam thất nam là cây thảo không có thân, cao từ 10 đến 20 cm. Thân rễ to, nạc, nằm ngang, chứa nhiều chất dự trữ. Thân dày bao bởi những vết của lá đã rụng, thường phân nhánh mang nhiều củ nhỏ bằng quả trứng chim xếp thành chuỗi, có nhiều ngấn ngang. Rễ con dạng sợi chỉ. Củ rễ hình tròn thuôn một đầu, mặt ngoài của củ có vằn ngang màu đen, trong đó có chất bột trắng ngà như màu củ tam thất.
Lá cây tam thất gừng là lá đơn, mọc cách từ 3 – 5 cái. Lá xếp thành 2 hành thường hướng lên trên, đôi khi nằm ngang gần như song song với mặt đất. Lá mọc thẳng từ thân rễ sau khi cây ra hoa, có cuống dài và bẹ phát triển. Bẹ lá mở đến gốc, phần dưới bẹ lá thường ôm chặt lấy nhau tạo thành thân giả. Cuống lá dài, có khi dài tới 25cm, hình lòng máng sâu. Phiến lá nguyên, hình mác thuôn dài, đầu nhọn. Thông thường mặt dưới lá có màu lục, lục pha nâu hoặc pha nâu tím, mép nguyên, lượn sóng. Mặt trên lá có màu xanh, đôi khi có đốm trắng loang lổ.

Phân bố:
Tam thất nam chỉ thấy phân bố ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây mọc hoang (ở Tây Nguyên) và được trồng rải rác trong nhân dân ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ (như Hưng Yên, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Hòa Bình, Cao Bằng, Hà Tây và Hải Dương với diện tích không đáng kể) và một số tỉnh phía Nam (như Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng,….)
Thành phần hóa học:
Các nhóm chất bằng phản ứng hóa học cho thấy trong thân rễ Tam thất gừng có Coumarin, Polysacharid và đặc biệt trong quá trình chiết xuất dược liệu thấy có Flavonoid với màu tím đỏ đặc biệt. Xác định được hàm lượng tinh dầu tam khoảng 0,11%.
Phân biệt Tam thất nam và Tam thất bắc
Về hình dáng củ, tam thất bắc, nam không giống nhau. Củ tam thất bắc sần sùi, nhiều nhánh; còn củ tam thất nam hơi tròn và nhẵn. Cây cũng khác nhau, tam thất bắc nhìn giống hệt sâm Ngọc Linh nên thường bị làm giả loại sâm này; còn tam thất nam nhìn tựa cây nghệ đen.
2. Thu hái và sơ chế
Tam thất nam thường sống ở những nơi đất ẩm, có thể hơi chịu bóng. Cây sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện trồng xen ở vườn gia đình hay vườn thuốc nam của các trạm y tế xã. Hàng năm, phần trên mặt đất của cây tàn lụi vào mùa đông. Đến khoảng tháng 3 năm sau, hoa xuất hiện trước khi cây ra lá, quả ít gặp. Tam thất nam có tốc độ đẻ nhánh khỏe. Từ một củ con trồng ban đầu, sau một năm có thể tạo thành khóm lớn gồm khoảng 10 nhánh. Tuy nhiên, sau 2 – 3 năm không được thu hoạch, các củ cải (củ con trồng ban đầu) sẽ bị thối rữa.
Tam thất nam được trồng ven hàng rào, bờ ao, chân đồi, ven suối, khe đá, tán rừng nguyên sinh, rậm thường xanh, nhiệt đới, rải rác thành từng nhóm sinh trưởng trên đất ẩm giàu mùn. Cây mọc khỏe, sống nhiều năm, ít sâu bệnh, có thể trồng dưới bóng cây. Củ đẻ nhánh như gừng.
Cây được nhân giống bằng củ mầm. Thời vụ trồng vào tháng 2 đến tháng 3. Nếu trồng nhiều, người dân cần cày bừa và lên luống. Nếu trồng ít, người dân có thể bỏ hốc cách nhau 40 đến 50 cm. Mỗi hóc có thể trồng một mầm hoặc một đoạn củ dài mang nhiều mầm. Phân bón chủ yếu là phân chuồng, mùn, rác mục làm cho đất tơi xốp. Cây không cần chăm sóc nhiều. Củ có thể thu dần, củ già thu trước, củ non để lại cho già. Ở miền núi, mùa đông cây ngừng sinh trưởng.
Bộ phận sử dụng của cây là rễ củ, thu hái vào mùa đông đến mùa xuân năm sau. Sau khi thu hái, rễ củ được bảo quản bằng cách phơi khô. Mặt ngoài của củ có vằn ngang màu đen, trong có chất bột trắng ngà như màu của củ tam thất.

3. Công dụng của cây Tam thất nam
Theo y học cổ truyền
Theo đông y, tam thất nam có vị cay, đắng nhẹ, tính ôn, có tác dụng thông kinh, hoạt huyết, tán ứ, tiêu thủng, hành khí chỉ thống.
Theo y học hiện đại
Một số tác dụng quý của vị thuốc này được mô tả như sau:
- Điều trị chấn thương, phong thấp, đau nhức xương.
- Điều trị thổ huyết, chảy máu cam, kinh nguyệt quá nhiều.
- Điều trị trùng độc cắn và rắn cắn.
- Điều trị hành kinh chậm, máu xấu lởn vởn không tươi.
- Điều trị ăn kém tiêu, nôn trớ,…
Liên hệ:
Hợp tác xã Dược liệu Vân Đài
📍 Địa chỉ: Thôn Vân Đài, xã Chí Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
📞 Điện thoại: 0983 926 497
📲 Tư vấn Zalo 24/7: 0983 926 497- Cơ sở 1: Thôn Vân Đài, xã Hồng Minh, Hưng Yên;
- Cơ sở 2: xóm Tam Văn, xã Văn Miếu, Phú Thọ;
- Cơ sở 3: Khu Phú Cường, xã Minh Hoà, Phú Thọ.
Hợp tác xã Dược liệu Vân Đài còn có nhiều loại cây Dược liệu khác như: cây Địa hoàng, cây Giảo cổ lam 5 lá, cây Hoa hoè, cây Sâm tiên mao (sâm cau đen), cây Hương nhu, cây Cát sâm (sâm nam núi Dành), cây Ba kích tím, cây Đinh lăng, cây Xạ can, cây Hà Thủ Ô đỏ, cây Bách bộ, cây Gừng tím (ngải đen), cây Xáo Tam phân, cây Khổ sâm, cây Sâm Đại hành, cây Thiên niên kiện, cây Kim ngân hoa, Xạ đen…
Hy vọng rằng với những chia sẻ ở trên, quý khách hàng có thể chọn lựa cho mình những cây Dược liệu giống phù hợp với mong muốn và vùng đất nơi mình muốn trồng và phát triển cây dược liệu!








Reviews
There are no reviews yet.